Sách luật

--- --- --- --- --- ---

Quy định pháp luật về miễn thuế đối với trường hợp sở hữu 01 nhà đất duy nhất

9:00 AM

Quy định pháp luật về miễn thuế đối với trường hợp sở hữu 01 nhà đất duy nhất

Công ty luật, luật sư uy tín, sách luật, văn phòng luật sư tphcm, hà nội, đà nẵng, uy tín, tranh chấp, di chúc thừa kế, nhà đất, thành lập doanh nghiệp, bảo vệ tại tòa án, lý lịch tư pháp, sách luật hay, thư viện trường học, ly hôn, phần mềm quản lý công ty luật, bình luận án lệ, COVID-19, luận văn, luận án


VANTHONGLAW - Thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) là một loại thuế trong hệ thống thuế của nước ta, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy ngân sách Nhà nước. Về nguyên tắc, thuế TNCN được tính trên thu nhập của người nộp thuế sau khi đã trừ đi các thu nhập miễn thuế và các khoản được giảm trừ gia cảnh. Theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân thì trường hợp cá nhân chỉ có một nhà, đất thì thu nhập từ việc chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất sẽ thuộc trường hợp được miễn thuế. Vậy đối với trường hợp cá nhân mua đi bán lại nhà và đất nhằm tạo ra thu nhập thì thu nhập đó có được xem là thu nhập miễn thuế không?

Theo quy định tại Luật Thuế TNCN, thì các đối tượng sau đây phải chịu thuế TNCN khi có các khoản thu nhập phải chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật này:

1.     Cá nhân cư trú tại Việt Nam:

-     Là người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;

-      Là người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.

2.     Cá nhân không cư trú tại Việt Nam (là người không thuộc 02 trường hợp nêu trên).

Khoản thu nhập chịu thuế là những khoản thu nhập được quy định tại Điều 3 Luật Thuế TNCN bao gồm:

-        Thu nhập từ hoạt động kinh doanh;

-        Thu nhập từ tiền lương, tiền công;

-        Thu nhập từ đầu tư vốn;

-        Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;

-        Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

-        Thu nhập từ trúng thưởng;

-        Thu nhập từ bản quyền;

-        Thu nhập từ nhượng quyền thương mại;

-        Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng;

-     Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.

Như vậy, các cá nhân là người cư trú hoặc không cư trú khi có các khoản thu nhập nêu trên thì phải nộp thuế TNCN theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp thu nhập đó thuộc khoản thu nhập được miễn thuế.

Theo đó, thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản cũng là một khoản thu nhập phải chịu thuế TNCN, mức thuế TNCN mà cá nhân phải chịu khi chuyển nhượng bất động sản là 2%. Tuy nhiên, pháp luật lại quy định trong trường hợp cá nhân chỉ sở hữu một nhà, đất thì thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản sẽ được miễn thuế. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho các cá nhân khi mua, bán nhà đất không vì mục đích tạo ra thu nhập mà đơn giản vì nhu cầu thay đổi nơi ở,...Chính vì quy định này, trên thực tế không ít trường hợp các cá nhân kinh doanh bất động sản nhằm trốn thuế TNCN đã có hành vi: mua một nhà, đất đứng tên sau đó bán đi rồi mới mua nhà, đất mới bán tiếp và lặp lại như vậy. Như thế, cá nhân đó không phải chịu thuế TNCN nhưng vẫn có thu nhập ổn định từ việc kinh doanh bất động sản.

Hành vi trốn thuế trên đã làm ảnh hưởng đến ngân sách Nhà nước và không đảm bảo được sự công bằng xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có quy định nào khắc phục được kẽ hở trên, Nhà nước chỉ có các quy định xử phạt các hành vi trốn thuế khi có căn cứ cho rằng cá nhân trốn thuế như sau: tại Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính như sau:

-        Phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên;

-       Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện hành vi mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

-       Phạt tiền 2 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện hành vi mà có một tình tiết tăng nặng;

-       Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện hành vi có hai tình tiết tăng nặng;

-      Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện hành vi có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.

Như vậy, trong trường hợp cá nhân cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật trong quy định về miễn thuế TNCN khi chuyển nhượng nhà, đất đối với cá nhân chỉ sở hữu một nhà, đất mà có căn cứ, cơ sở cho rằng đó là hành vi trốn thuế thì cá nhân đó sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG
Quy định pháp luật về miễn thuế đối với trường hợp sở hữu 01 nhà đất duy nhất Quy định pháp luật về miễn thuế đối với trường hợp sở hữu 01 nhà đất duy nhất
910 1

Bài viết Quy định pháp luật về miễn thuế đối với trường hợp sở hữu 01 nhà đất duy nhất

Chia sẻ bài viết

Cùng Chuyên Mục

Previous
Next Post »

Popular Posts