Thương mại điện tử

Sách luật

--- --- --- --- --- ---

BÀI MỚI NHẤT

Khi nào được xem là phòng vệ chính đáng

7:00 PM Thêm bình luận
Khi nào được xem là phòng vệ chính đáng


VANTHONGLAW - Khi đứng trước nguy cơ bị xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và tinh thần thì cơ chế phòng vệ của con người sẽ được kích hoạt để tự bảo vệ bản thân. Trong một số trường hợp, sự phòng vệ của một người đôi khi sẽ làm xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Khi đó, sự phòng vệ đó có thể không còn được xem là phòng vệ chính đáng nữa và người có hành vi phòng vệ quá mức sẽ có nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bài liên quan:


Điều 22 Bộ luật Hình sự nước ta quy định “phòng vệ chính đáng” là hành vi của người chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của bản thân, nhà nước, cơ quan, tổ chức và người khác.

Trái với hành vi “phòng vệ chính đáng” là hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Cũng theo quy định tại Điều 22, hành vi vượt quá phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Theo quy định của pháp luật hình sự, phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Tuy nhiên, hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Từ quy định trên, có thể hiểu việc phòng vệ của một người được xem là phòng vệ chính đáng khi thỏa các điều kiện sau:

1. Điều kiện từ phía nạn nhân: Nạn nhân phải là người đang có hành vi tấn công trái pháp luật và xâm phạm đến quyền, lợi ích của người phòng vệ hoặc cơ quan, tổ chức, Nhà nước hoặc người khác. Hành vi xâm phạm của nạn nhân phải hiện hữu trên thực tế và chưa có dấu hiệu chấm dứt.

2. Điều kiện từ phía người phòng vệ: Người phòng vệ chỉ được gây thiệt hại cho người có hành vi tấn công trái pháp luật xâm phạm đến người phòng vệ hoặc cơ quan, tổ chức, Nhà nước hoặc là người khác.

3. Sự tương đồng về giữa hành vi tấn công gây thiệt hại và hành vi phòng vệ chính đáng: Sự tương đồng ở đây không thể hiện ở việc ngang bằng về cơ học, tính chất và các điều kiện khác của hành vi. Có nghĩa là không phải hành vi của người tấn công gây ra thiệt hại ở mức độ nào thì người phòng vệ cũng được gây thiệt hại ở mức độ đó.

4. Điều kiện về hành vi phòng vệ: Hành vi chống trả phải là cần thiết. Cần thiết ở đây được hiểu là không thể không chống trả hoặc không thể trước hành vi xâm phạm đó. Trường hợp chứng minh được sự cần thiết của hành vi phòng vệ thì cho dù thiệt hại do hành vi phòng vệ lớn hơn thiệt hại của hành vi tấn công thì vẫn được xem là phòng vệ chính đáng và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, khi không đủ các điều kiện nêu trên thì hành vi phòng vệ của người phòng vệ sẽ không được xem là phòng vệ chính đáng. Ngoài ra, khi hành vi phòng vệ đó là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nghĩa là hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công. Theo đó, giới hạn cần thiết là mức mà khi vượt quá giới hạn đó thì hành vi phòng vệ của người đó không còn mang mục đích bảo vệ quyền, lợi ích của người bị xâm phạm mà ngược lại còn gây ra hậu quả và thiệt hại lớn hơn hành vi xâm phạm. Giới hạn cần thiết bao gồm những biện pháp đủ mức để ngăn chặn và bảo vệ người bị xâm phạm trước hành vi tấn công của người có hành vi xâm phạm.

Ví dụ về hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:

A cầm gậy đánh vào đầu và người anh B, hành vi tấn công của A có thể gây thương tích hoặc trong trường hợp xấu nhất là khiến anh B tử vong. Anh B vì để bảo vệ mình nên đã chạy vào nhà cầm dao ra dọa chém anh A. Tuy nhiên, anh A không có dấu hiệu dừng lại hành vi tấn công anh B. Anh B thấy vậy nên vung dao lên đâm vào bụng anh A. Hậu quả là anh A tử vong trên đường đi cấp cứu.

Hành vi trên là hành vi vượt quá giới hạn giới hạn phòng vệ chính đáng và gây ra hậu quả là anh A đã tử vong, thiệt hại mà anh B vì phòng vệ mà gây ra lớn hơn thiệt hại mà anh A có thể gây ra. Theo đó, anh B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 126 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự nước ta còn quy định đối với các trường hợp vì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà gây ra các hậu quả đủ để cấu thành tội phạm thì yếu tố vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.  

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Tố cáo người giải quyết khiếu nại trong tố tụng hành chính

7:00 PM Thêm bình luận

   Tố cáo người giải quyết khiếu nại trong tố tụng hành chính


VANTHONGLAW - Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, có rất nhiều trường hợp người khiếu kiện không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của các chủ thể giải quyết khiếu nại và đã phát sinh đơn tố cáo người giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, để được thụ lý đơn tố cáo thì nội dung tố cáo phải thỏa các quy định của pháp luật.

Bài liên quan:


Tại Điều 7 Luật Khiếu nại, khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại sẽ khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính. 

Trường hợp có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì người đó có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Nếu có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà người khiếu nại không đồng ý hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì người đó có quyền khởi kiện hành chính theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên trên thực tiễn, nhiều trường hợp người giải quyết khiếu nại có hành vi chậm trễ giải quyết khiếu nại hoặc kéo dài các thủ tục giải quyết khiếu nại làm xâm phạm đến quyền khiếu nại của chủ thể có quyền khiếu nại nên phát sinh việc tố cáo người giải quyết khiếu nại. 

Để có cơ sở giải quyết đơn tố cáo người giải quyết khiếu nại, tránh việc xử lý đơn lúng túng, không thống nhất, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 05/2021/TT-TTCP có hiệu lực từ ngày 15/11/2021 thay thế Thông tư số 07/2014/TT-TTCP quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh nhằm tạo ra hành lang pháp lý chung trong việc xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh. Theo đó, tại Điều 17 Thông tư số 05/2021/TT-TTCP quy định như sau:

- Đơn tố cáo người giải quyết khiếu nại vi phạm về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại thì không thụ lý đơn theo quy định của Luật Tố cáo. Trong trường hợp này, người xử lý đơn hướng dẫn người có đơn tiếp tục thực hiện việc khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Đối với đơn tố cáo mà người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm một trong các điều cấm được quy định tại các khoản 1, 2 và 4 của Điều 6 Luật Khiếu nại thì thụ lý giải quyết theo quy định của Luật Tố cáo.

Theo đó, đơn tố cáo mà trong đó người tố cáo cung cấp được các thông tin, tài liệu, chứng cứ xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm một trong các điều cấm sau thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải thụ lý theo quy định của Luật Tố cáo:

- Cản trở, gây phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại.

- Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai lệch các thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố ý giải quyết khiếu nại trái pháp luật.

- Bao che cho người bị khiếu nại, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại.

Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã có một hành lang pháp lý nhằm bảo vệ cho người dân, cơ quan, tổ chức là đối tượng bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật và hạn chế hành vi lạm quyền của các chủ thể giải quyết khiếu nại trong quan hệ hành chính.

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải quyết định hành chính?

7:00 PM Thêm bình luận

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải quyết định hành chính?

Cá nhân có được thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ sàn giao dịch điện tử?

11:00 PM Thêm bình luận

 Cá nhân có được thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ sàn giao dịch điện tử?



Nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực thương mại điện tử

7:00 PM Thêm bình luận

  Nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực thương mại điện tử


VANTHONGLAW - Sự phát triển mạnh mẽ của nền thương mại điện tử trong những thập kỷ qua đã mang đến nhiều lợi ích về kinh tế cho toàn Thế giới. Ước tính trong năm 2021 vừa qua, doanh số trong lĩnh vực thương mại điện tử chiếm 18,1% doanh số bán lẻ trên toàn Thế giới. Như vậy, có thể thấy rằng thương mại điện tử đang dần trở thành một phần quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, đi kèm theo những lợi ích kinh tế mà ngành thương mại điện tử mang lại là những rủi ro tiềm ẩn mà người tiêu dùng phải gánh chịu. Một trong số đó là rủi ro do bị đánh cắp dữ liệu cá nhân.

Bài liên quan:


Theo đó, khi người tiêu dùng có nhu cầu mua sắm hoặc bán lẻ trên các sàn thương mại điện tử thì điều đầu tiên các sàn yêu cầu là phải cung cấp một số thông tin cá nhân nhất định để có thể xác định được người tiêu dùng đó là ai. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thông tin của người tiêu dùng được khai thác quá sâu, khi đó, các quyền nhân thân của người tiêu dùng sẽ không được đảm bảo. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử về việc cung cấp thông tin của người tiêu dùng cũng sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người đó (gây ảnh hưởng đến quyền nhân thân được quy định tại Điều 38 Bộ luật dân sự 2015).

Để khắc phục tình trạng các doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử khai thác và làm ảnh hưởng đến các quyền nhân thân của người tiêu dùng, ngày 07/3/2022, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã ký quyết định ban hành Nghị quyết thông qua hồ sơ xây dựng Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân. Theo đó, dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân quy định 08 nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân như sau:

1.Nguyên tắc hợp pháp: Dữ liệu cá nhân chỉ được thu thập trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.

2. Nguyên tắc mục đích: Dữ liệu cá nhân chỉ được xử lý đúng với mục đích đã đăng ký, tuyên bố về xử lý thông tin cá nhân.

3. Nguyên tắc tối giản: Dữ liệu cá nhân chỉ được thu thập trong phạm vi cần thiết để đạt được mục đích đã xác định.

4. Nguyên tắc sử dụng hạn chế: Dữ liệu cá nhân chỉ được sử dụng khi có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

5. Nguyên tắc về chất lượng dữ liệu: Dữ liệu cá nhân phải được cập nhật, đầy đủ để bảo đảm mục đích xử lý dữ liệu.

6. Nguyên tắc an ninh: Dữ liệu cá nhân được áp dụng các biện pháp bảo vệ trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân.

7. Nguyên tắc cá nhân: Chủ thể dữ liệu được biết và nhận thông báo về hoạt động liên quan tới xử lý dữ liệu cá nhân của mình.

8. Nguyên tắc bảo mật: Dữ liệu cá nhân phải được bảo mật trong quá trình xử lý dữ liệu.

Đồng thời, ngày 15/8/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng định nghĩa: “Dữ liệu về thông tin cá nhân là dữ liệu về thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự để xác định danh tính một cá nhân.”

Như vậy, dữ liệu về thông tin dưới bất kỳ dạng nào để xác định danh tính một cá nhân sẽ được xem là dữ liệu về thông tin cá nhân và phải được bảo vệ theo 08 nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân do Chính phủ ban hành.

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và pháp luật áp dụng

8:00 PM Thêm bình luận

 Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và pháp luật áp dụng

Công ty luật, luật sư uy tín, sách luật, văn phòng luật sư tphcm, hà nội, đà nẵng, uy tín, tranh chấp, di chúc thừa kế, nhà đất, thành lập doanh nghiệp, bảo vệ tại tòa án, lý lịch tư pháp, sách luật hay, thư viện trường học, ly hôn, phần mềm quản lý công ty luật, bình luận án lệ, COVID-19, luận văn, luận án


VANTHONGLAW - Tiến trình phát triển của toàn cầu hóa kéo theo đó là những quan hệ dân sự vượt ra khỏi phạm vi trong nước. Khi đó đòi hỏi pháp luật phải có những quy định riêng để điều chỉnh những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, bởi lẽ khi có yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự, pháp luật Việt Nam không đương nhiên được áp dụng mà còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài. Bài viết này, người viết sẽ làm rõ thế nào là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và pháp luật áp dụng trong trường hợp này.

Bài liên quan:


    1. Thế nào là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

    Theo đó, khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

    “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

    b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

    c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”

    Ngoài ra, Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài quy định:

    “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là:

    a) Các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

    b) Các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt theo pháp luật nước ngoài, phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”

    Như vậy, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao đồng mà có một trong ba yếu tố sau:

    - Ít nhất một bên tham gia là cá nhân/pháp nhân nước ngoài;

    - Việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ dân sự xảy ra ở nước ngoài;

    - Đối tượng của quan hệ dân sự ở nước ngoài.

    Bên cạnh đó, Nghị định 138/2006/NĐ-CP còn quy định về các thuật ngữ sau:

    - “Người nước ngoài” là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch.

    - “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

    - “Cơ quan, tổ chức nước ngoài” là các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức Việt Nam được thành lập theo pháp luật nước ngoài, bao gồm cả cơ quan, tổ chức quốc tế được thành lập theo pháp luật quốc tế.

    - “Pháp nhân nước ngoài” là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài.

    2. Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

    Khi một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ dẫn đến tình trạng pháp của hai hay nhiều nước có liên quan đến quan hệ đó có thẩm quyền điều chỉnh. Nguyên nhân của việc này là do phát sinh từ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền nên một quốc gia không thể đương nhiên áp dụng pháp luật của mình vào quan hệ dân sự có  yếu tố nước ngoài.

    Theo đó, pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:

    (i) Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: nếu Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định thì áp dụng theo Điều ước quốc tế đó.

    + Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam có quy định khác thì áp dụng Điều ước quốc tế;

    + Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì  luật điều chỉnh quan hệ dân sự đó sẽ được xác định theo lựa chọn các bên.

    (ii) Pháp luật Việt Nam: Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên không có quy định thì áp dụng theo pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, trong trường hợp hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng.

    (iii) Pháp luật nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam không có quy định thì pháp luật nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó sẽ được áp dụng.

    * Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó.

    Tuy nhiên, trong các trường hợp sau, pháp luật nước ngoài sẽ không được phép áp dụng:

    + Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam;

    + Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng.

    (iv) Tập quán nước ngoài: có vai trò bổ trợ, bổ sung trong trường hợp Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam không quy định. Theo quy định tại Điều 666 Bộ luật Dân sự 2015, tập quán quốc tế được áp dụng khi:

    + Được các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lựa chọn;

    + Được pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định các bên có quyền lựa chọn luật áp dụng;

    + Hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG