Thương mại điện tử

Sách luật

--- --- --- --- --- ---

BÀI MỚI NHẤT

Tội phạm về việc mua bán hàng tỷ dữ liệu cá nhân

12:00 AM Thêm bình luận
Công ty luật, luật sư uy tín, sách luật, văn phòng luật sư tphcm, hà nội, đà nẵng, uy tín, tranh chấp, di chúc thừa kế, nhà đất, thành lập doanh nghiệp, bảo vệ tại tòa án, lý lịch tư pháp, sách luật hay, thư viện trường học, ly hôn, phần mềm quản lý công ty luật, bình luận án lệ, COVID-19

VANTHONGLAW - Ngày 18/5, Bộ Công an cho biết Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao vừa triệt phá đường dây thu thập, chiếm đoạt, mua bán trái phép dữ liệu quy mô lớn tại Việt Nam. Đây là loại tội phạm trực tiếp xâm hại quyền được bảo vệ về thông tin của cá nhân, cơ quan, tổ chức bằng cách sử dụng công nghệ thông tin, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, xâm hại trật tự an toàn xã hội.

Bài liên quan

– Tội phạm được thực hiện thông qua một trong các hành vi khách quan sau: 
 
+ Đưa mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật như thông tin có nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân; kích động tội ác, tệ nạn xã hội, thuần phong mỹ tục… trừ 4 trường hợp sau: 

1. Các hành vi được quy định tại Điều 117 BLHS năm 2015: phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như xuyên tạc, phỉ bang chính quyền nhân dân, thông tin có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, gây chiến tranh tâm lý…; 

2. Các hành vi được quy định tại Điều 155 BLHS năm 2015: làm nhục người khác bằng cách đưa thông tin xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác; 

3. Tại Điều 156 BLHS năm 2015: Hành vi vu khống người khác bằng cách bịa đặt thông tin nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người khác hoặc tố cáo người khác phạm tội với cơ quan nhà nước; 

4. Theo Điều 326 BLHS năm 2015: Hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy.  

+ Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu hoặc người quản lý thông tin đó. (Thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức cá nhân được pháp luật bảo vệ như tên, ngày tháng năm sinh, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ, bí mật đời tư của cá nhân; thông tin, bí mật của tổ chức; các thông tin khác được Hiến pháp, Bộ luật Dân sự…quy định bảo vệ.)  

+ Các hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông như theo dõi thu thập thông tin bất hợp pháp về cá nhân, tổ chức khác; không được phép sử dụng thông tin nhưng vẫn sử dụng; không đăng ký, chưa được cấp phép nhưng vẫn sử dụng thông tin…  

– Hậu quả của tội phạm là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm, hành vi trên chỉ bị coi là tội phạm nếu thuộc một trong những trường hợp sau: 

Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên; Gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát; Dẫn đến biểu tình; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam.  

– Chủ thể của tội phạm: Cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực TNHS theo quy định của BLHS năm 2015.  

– Điều 288 BLHS năm 2015 quy định 2 khung hình phạt chính, gồm:  

+ Khung 1: Có mức hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với một trong những trường hợp phạm tội sau: Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân.  

+ Khung 2: Người phạm tội bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với các trường hợp phạm tội: Có tổ chức; Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông (là trường hợp người phạm tội đã sử dụng quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị điện tử để phạm tội); Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên; Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát (là trường hợp do bị xâm phạm bí mật cá nhân nên người bị xâm phạm đã có hành vi tự sát, không kể người đó có bị chết hay không); Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam; Dẫn đến biểu tình (biểu tình là việc một số lượng người tụ họp đông đảo để bày tỏ ý chí, nguyện vọng và biểu dương lực lượng. Ở đây phải được hiểu là biểu tình bất hợp pháp, không được sự cho phép của nhà nước)  

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ . 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:  
a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các Điều 117, 155, 156 và 326 của Bộ luật này;  
b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;  
c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông.  

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:  
a) Có tổ chức;  
b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông;  
c) Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên;  
d) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;  
đ) Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát;  
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam;  
g) Dẫn đến biểu tình.  

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo CA Quảng Bình

KOLS PR Tiền ảo - Xử lý như thế nào?

12:00 AM Thêm bình luận

Công ty luật, luật sư uy tín, sách luật, văn phòng luật sư tphcm, hà nội, đà nẵng, uy tín, tranh chấp, di chúc thừa kế, nhà đất, thành lập doanh nghiệp, bảo vệ tại tòa án, lý lịch tư pháp, sách luật hay, thư viện trường học, ly hôn, phần mềm quản lý công ty luật, bình luận án lệ, COVID-19

VANTHONGLAW - Những ngày vừa qua, mạng xã hội Việt lại một phen "dậy sóng" khi tài khoản Facebook của một số nghệ sĩ, người nổi tiếng đề cập đến tiền ảo với từ khoá #DOGE (viết tắt của Dogecoin). Mở màn cho hoạt động này chính là Ngọc Trinh khi vào tối 11/5, cô đăng tải status đòi nợ 2 triệu USD từ công ty giao dịch (sàn) tiền số của mình. Sau đó, "nữ hoàng nội y" còn công khai danh sách coin lên trang cá nhân của mình. Sau Ngọc Trinh, hàng loạt sao Việt như Nam Thư, Kiều Minh Tuấn, Lê Dương Bảo Lâm, Khả Như, Gin Tuấn Kiệt, Thiên Hương,… cũng có những bài PR tương tự trên trang cá nhân của mình.   

Bài liên quan
>>> Pháp luật Việt Nam có công nhận tiền ảo không? Và những khía cạnh của tiền ảo
>>> Các quy định về thừa kế trong Bộ Luật dân sự năm 2015
>>> 09 nhóm đối tượng được ưu tiên tiêm và miễn phí vắc xin phòng COVID-19
>>> Mua bán nhà đất bằng vi bằng là gì? Nhà nước có cấm không?
>>> Thủ tục Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng.

Trong bài viết, ngoài liệt kê những đồng tiền ảo đã có uy tín và giá trị, nhiều "đồng coin rác" cũng được cài cắm khéo léo, người đọc, người xem sẽ khó phân biệt nếu không có hiểu biết, kiến thức về những loại tiền ảo này. Các bài đăng gần giống hệt nhau từ các từ khoá cho đến hình ảnh. 

Tuy nhiên chỉ một đêm sau đó, khi người hâm mộ tìm đọc lại các post "PR lộ liễu" kể trên thì tất cả đều đã bị gỡ. Tuy nhiên, sự bức xúc của dư luận xoay quanh vụ việc này vẫn đang là tâm điểm tranh cãi trên các diễn đàn. Không ai biết chắc trước khi họ gỡ đi, đã bao nhiêu "cá bé" nghe theo và đổ tiền vào cuộc chơi này. 

PHÁP LUẬT VIỆT NAM KHÔNG CÔNG NHẬN TIỀN ẢO 

Tại Công văn số 5747/NHNN-PC-2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: “tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc phát hành, cung ứng và sử dụng tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng (phương tiện thanh toán không hợp pháp) làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm… Ngoài ra, về việc đầu tư vào tiền ảo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo nhiều lần việc đầu tư này tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho nhà đầu tư. 

HÌNH THỨC XỬ PHẠT: 

- Xử phạt hành chính: 

Theo điểm d khoản 6, Điều 26 Nghị định 88/2019/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng thì các hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp (bao gồm cả Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác) mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính mức phạt từ 50 - 100 triệu đồng. 

- Truy cứu trách nhiệm hình sự: 

Việc phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên có thể bị truy cứu về tội "vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng" theo điểm h khoản 1 điều 206 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)" với mức xử phạt từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Trường hợp gây thiệt hại từ 3 tỉ đồng trở lên thì có thể bị phạt tù đến 20 năm. 

Các quy định này không chỉ xử lý riêng với các đối tượng đứng ra tổ chức. Việc những người nổi tiếng lợi dụng sức ảnh hưởng để dụ dỗ, lôi kéo, quảng bá người hâm mộ đầu tư kinh doanh tiền ảo cũng có thể bị xem xét là đồng phạm với đối tượng cầm đầu và bị xem xét xử lý theo các quy định nêu trên.

Quỳnh Như

Lấy trộm thông tin cá nhân trên thẻ Căn cước công dân gắn chíp xử lý thế nào?

12:00 AM Thêm bình luận
Công ty luật, luật sư uy tín, sách luật, văn phòng luật sư tphcm, hà nội, đà nẵng, uy tín, tranh chấp, di chúc thừa kế, nhà đất, thành lập doanh nghiệp, bảo vệ tại tòa án, lý lịch tư pháp, sách luật hay

VANTHONGLAW - Đầu năm 2021, Bộ Công an đã tiến hành triển khai làm thẻ Căn cước công dân có gắn chip cho người dân trên cả nước. Dự kiến, bộ sẽ cấp 50 triệu thẻ trên toàn quốc trước ngày 01/7/2021. Tích hợp chip điện tử trên thẻ Căn cước công dân sẽ lưu trữ các thông tin cá nhân cơ bản của người dân, qua đó giảm thiểu các giấy tờ hành chính người dân phải mang theo khi làm việc, giao dịch. Bộ Công an cam kết độ bảo mật của chip điện tử gắn trên Căn cước cá nhân là cực kỳ cao và gần như an toàn tuyệt đối.

Bài liên quan
>>> Quy định về xếp hạng khách sạn - TCVN 4391:2015
>>> Án lệ số 11/2017/AL: Về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc Sở hữu của bên thế chấp
>>> Một số quy định pháp luật về xây dựng, chuyển nhượng, tặng cho đối với đất chưa có "sổ đỏ"

Những tiện ích vượt trội của thẻ Căn cước công dân có gắn chip 

Theo Thiếu tướng Tô Văn Huệ - Cục trưởng Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cho biết, thẻ căn cước công dân có gắn chip điện tử có nhiều ưu điểm hơn so với Căn cước công dân có mã vạch trước đây.  

Thẻ Căn cước công dân có gắn chip lưu trữ được lượng thông tin lớn hơn nhiều lần so với thẻ Căn cước công dân có mã vạch, có thể lưu trữ nhiều loại giấy tờ có giá trị khác như thẻ ngân hàng, bằng lái xe,... Thẻ còn có thể tích hợp thêm các thông tin của các bộ, ngành khác về Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội,… Theo đó, khi người dân tham gia các giao dịch và thực hiện các thủ tục sẽ không phải mang theo nhiều loại giấy tờ mà chỉ cần sử dụng thẻ Căn cước công dân sẽ thực hiện được mọi giao dịch. 

Tính bảo mật của căn cước công dân có gắn chip 

Vì tích hợp quá nhiều thông tin dữ liệu như trên nên tính bảo mật thông tin cá nhân của loại thẻ này vẫn là câu hỏi nhiều người đặt ra.  

Trước thắc mắc của công dân, Bộ Công an giải đáp, chip sử dụng trên thẻ Căn cước công dân tuân thủ quy định bảo mật của thế giới và Việt Nam, trên chip có thực hiện ký số, do vậy khó làm giả, đảm bảo độ tin cậy trong thực hiện các giao dịch. 

Chip có khả năng lưu trữ thông tin sinh trắc học (như dấu vân tay), cho phép xác thực đảm bảo chính xác con người. Qua đó, thông tin chủ thẻ được định danh một cách chính xác, giảm thiểu mọi nguy cơ về giả mạo thẻ, đảm bảo an toàn bảo mật nhất là trong các giao dịch tài chính. 

Bộ Công an cũng khẳng định, chip gắn trên thẻ CCCD không có chức năng định vị, theo dõi để xác định vị trí của công dân. Việc tích hợp, sử dụng thông tin trên chip tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. 

  1. Bình luận luật nhà ở năm 2014
  2. Thuế TAX 2021 - Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021 - Song Ngữ Anh - Việt
  3. Tuyển chọn Quyết định giám đốc thẩm và Bản án của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp cao về hình sự, dân sự, hành chính, lao động từ năm 2015 – 2020

Tuy nhiên, trước các thủ đoạn tinh vi biến hóa khôn lường của tội phạm công nghệ cao, việc bị đánh cắp thông tin thẻ Căn cước công dân là điều hoàn toàn có thể xảy ra. 

Theo quy định Bộ luật hình sự 2015, hành vi đánh cắp thông tin trên thẻ Căn cước công dân có thể bị cấu thành các tội sau: 

1. Điều 288 BLHS 2015: hành vi Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó có thể cấu thành Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông. 

2. Điều 290 BLHS 2015: hành vi Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản có thể cấu thành Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. 

3. Điều 291 BLHS 2015: việc thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng có thể cấu thành Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng. 

Tự ý sử dụng thẻ Căn cước công dân của người khác để thực hiện hành vi trái pháp luật bị xử lý như thế nào? 

Hiện pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn xử phạt cụ thể đối với hành vi sử dụng căn cước công dân của người khác để thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra vi phạm vẫn có thể áp dụng quy định tương tự trong xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân để xử lý. 

Theo quy định tại điểm a khoản 2, khoản 4 Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, tùy tính chất và mức độ vi phạm mà việc sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật có thể bị xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

  1. Chuyện Pháp Đình ( Bình Luận Án )
  2. Các Biểu Mẫu Nhân Sự Khó Tìm Liên Quan Đến Pháp Luật Lao Động
  3. Cẩm Nang Nghiệp Vụ Dành Cho Hiệu Trưởng Và Kế Toán Trường Học - Luật Giáo Dục Và Những Quy Định Mới Nhất Về Giáo Dục Đào Tạo 2011 - Bộ Giáo dục và Đào tạo
============================================
Khách hàng có nhu cầu "Giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo vệ danh dự, uy tín, thông tin cá nhân", vui lòng liên hệ:

Trụ sở TP. HCM: 284 Lê Văn Qưới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
CN Bình Phước: 67 Trừ Văn Phố, KP. Phú Bình, P. An Lộc, TX. Bình Long, Bình Phước
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001 - 0904 434 255
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com

BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ

Quỳnh Như

Các loại đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013

12:00 AM Thêm bình luận

các loại đất, luật đất đai 2013, công ty luật tp. hcm, văn phòng luật sư

VANTHONGLAW.COM - Đất, đất ở trong quan niệm của nhiều người đơn thuần là cung cấp nơi ở, nhà ở, khu vực sinh hoạt cho người dân, phân bố ở nhiều nơi như vùng quê, thành thị, vùng núi, đồng bằng, ven biển,... Nhưng trên thực tế, để dễ dàng cho nhà nước trong việc quản lý đất, ổn định đời sống sinh hoạt của người dân thì đất được phân loại cụ thể và mọi loại đất đều có những mục đích sử dụng khác nhau.

Thẩm quyền của trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp

12:00 AM Thêm bình luận
VANTHONGLAW.COM - Ngày nay, trong một xã hội bận rộn và năng động, hoạt động kinh doanh và mục tiêu phát triển kinh tế trở thành một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cũng như được xã hội quan tâm đặc biệt. Khi phát triển, những bất đồng bắt đầu phát sinh và có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa những người hoạt động kinh doanh với nhau. Theo truyền thống, các tranh chấp trong xã hội sẽ được giải quyết tại cơ quan Tòa án, tuy nhiên, vì tính chất quan trọng của các hoạt động kinh doanh đóng góp cho sự phát triển và giàu có của xã hội, một hình thức giải quyết tranh chấp khác đã ra đời: giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Như vậy, một vấn đề sẽ nảy sinh, là thẩm quyền của Tòa án và Trọng tài sẽ được quy định như thế nào?
Bài liên quan

Trước hết, cần phân biệt rõ phạm vi thẩm quyền của Tòa án và Trọng tài thương mại (TTTM). Tòa án là cơ quan tối cao giải quyết tất cả các tranh chấp của xã hội và là cơ quan có quyết định cuối cùng buộc các bên phải thi hành. Đối với trọng tài và cụ thể là trọng tài thương mại, đây là tổ chức chỉ giải quyết duy nhất một loại tranh chấp là tranh chấp về thương mại, do đó, tên gọi chính thức và duy nhất của tổ chức trọng tài là "Trọng tài thương mại". Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài có một cơ chế tố tụng riêng và nếu trình tự, thủ tục này được thực hiện đúng sẽ có hiệu lực thi hành bắt buộc như bản án, quyết định của Tòa án. Vì vậy, điểm khác biệt cơ bản trước hết giữa Tòa án và Trọng tài thương mại chính là phạm vi giải quyết của Tòa án là toàn bộ các vấn đề của xã hội, còn TTTM chỉ giải quyết các vấn đề về thương mại.

Thứ hai, các bên khi tham gia hoạt động thương mại nếu muốn để tổ chức trọng tài là nơi giải quyết tranh chấp thì ý muốn này phải được thể hiện thông qua một văn bản có nội dung chính thức về việc yêu cầu tên chính xác một tổ chức TTTM là nơi giải quyết tranh chấp. Thông thường, điều này được gọi là thỏa thuận trọng tài và được thể hiện bằng một điều khoản cụ thể trong hợp đồng do các bên ký kết với nhau. Điều này thể hiện bản chất vấn đề giải quyết tranh chấp của trọng tài. Trọng tài chỉ tham gia giải quyết tranh chấp khi có sự thỏa thuận chính thức giữa các bên tức là ý chí chọn lựa của các bên và Tòa án sẽ từ chối giải quyết tranh chấp nếu các bên đã thỏa thuận chính xác về vấn đề này. Là một thỏa thuận - nên các bên buộc phải tôn trọng và chấp hành, đó cũng chính là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.

Thứ ba, thỏa thuận trọng tài rất phù hợp với bản chất của hoạt động thương mại và phán quyết trọng tài có giá trị như bản án phúc thẩm để thi hành. Vì vậy, khi bắt đầu giải quyết tranh chấp, một trong những thủ tục tố tụng trọng tài đầu tiên mà các bên phải thực hiện là lựa chọn trọng tài viên cho riêng mình. Việc lựa chọn trọng tài viên là bắt buộc và nếu không thực hiện việc này, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài vẫn không bị mất mà ngược lại sẽ là phần nào đó bất lợi cho bên không lựa chọn. Vì có thể ví von trọng tài viên như chính người của mỗi bên tham gia vào hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp. Tất nhiên trọng tài viên vẫn tuân theo pháp luật và sự thật khách quan của vụ án, nhưng nếu có sự tin tưởng ngay từ đầu, các bên sẽ có thể trình bày nhiều vấn đề hơn nhằm giải quyết tốt nhất tranh chấp của mình.

Lý do để các bên tham gia hoạt động thương mại lựa chọn tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp, là vấn đề thời gian. Trong vấn đề thời gian, các yếu tố về thủ tục được rút gọn tối đa có thể dựa trên nỗ lực tham gia giải quyết tranh chấp giữa các bên. Theo đó, khi đã lựa chọn trọng tài là nơi giải quyết tranh chấp, các bên phải nắm rõ quy trình tố tụng trọng tài và các cách thức giải quyết tranh chấp như thụ lý đơn, gửi đơn, hồ sơ, chọn trọng tài viên, trình bày chứng cứ, thi hành phán quyết... Chính việc rút gọn các vấn đề này trên tinh thần bắt buộc các bên tôn trọng thỏa thuận lựa chọn trọng tài phải tích cực thực hiện trong thời gian nhanh nhất, sẽ giúp việc giải quyết tranh chấp được diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm thời gian - là tài sản quý nhất của hoạt động thương mại.

Mặc dù vậy, cần lưu ý vấn đề rằng Tòa án với vai trò của cơ quan tối cao giải quyết toàn bộ các tranh chấp của xã hội vẫn có một cơ chế để xem xét về phán quyết của trọng tài. Tại Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, pháp luật quy định về việc Tòa án sẽ hủy các phán quyết của TTTM nếu những phán quyết này vi phạm các điều khoản trong điều luật này. Ngoài ra, tại Điều 69 LTTTM 2010 quy định về cơ chế thi hành phán quyết của trọng tài thông qua cơ quan Thi hành án dân sự. Những quy định này đã thể hiện vai trò của Tòa án đối với các phán quyết của trọng tài nếu có sai sót hoặc đủ điều kiện thi hành.

LUẬT VẠN THÔNG

Thẩm quyền hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

12:00 AM Thêm bình luận
công ty luật vạn thông, luật sư giỏi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thẩm quyền tòa án
VANTHONGLAW.COM - Theo quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCNQSDĐ) thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân. Điều này để nói lên tầm quan trọng của việc ban hành một trong những loại văn bản khẳng định quyền của người dân đối với đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, GCNQSDĐ là một "chứng thư pháp lý" được cấp cho người dân, tổ chức, cá nhân được Nhà nước công nhận và bảo đảm quyền sử dụng đất của mình. Nhưng nếu có tranh chấp, sai sót dẫn đến hủy GCNQSDĐ này, thì cấp Tòa án nào - huyện hay tỉnh, có quyền hủy GCNQSDĐ khi cần thiết.
Bài liên quan

Để trả lời câu hỏi này, người dân và những người vận dụng pháp luật cần áp dụng song song các quy định của pháp luật về Tố tụng hành chính và dân sự để xác định Tòa án có thẩm quyền hủy GCNQSDĐ khi xét thấy cần thiết. Bên cạnh đó, do đặc thù của nền hành pháp và tư pháp Việt Nam khi tồn tại những văn bản giải đáp, hướng dẫn giải quyết trong một số trường hợp có vướng mắt khi áp dụng luật vào hoạt động hành chính hoặc xét xử, chúng ta còn cần lưu ý đến những loại văn bản như Công văn giải đáp, Văn bản hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là Tòa án Nhân dân tối cao.

Vì GCNQSDĐ quyền sử dụng đất được ban hành theo thủ tục hành chính, là một chứng thư pháp lý và là một loại quyết định hành chính đặc biệt, nên GCNQSDĐ trực tiếp điều chỉnh quyền lợi, hành vi của người, tổ chức được cấp GCNQSDĐ. Do đó, GCNQSDĐ là đối tượng thuộc phạm vi xử lý chính thức của hệ thống Luật tố tụng hành chính và phải áp dụng luật tố tụng hành chính để giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã được ban hành. Theo Khoản 1 Điều 31, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan Nhà nước cấp huyện, trừ QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, chủ tịch UBND cấp huyện.

GCNQSDĐ do UBND cấp huyện ban hành, căn cứ vào điều luật trên, TAND cấp huyện không có quyền xét xử yêu cầu của đương sự có liên quan đến GCNQSDĐ. Thông thường, yêu cầu của đương sự sẽ xoay quanh việc (1) chỉnh sửa nội dung và (2) hủy (gồm cả toàn bộ hay một phần) GCNQSDĐ của đương sự khác đã được cấp. Và cho dù yêu cầu của đương sự có thuộc trường hợp (1) hay (2) nêu trên, TAND cấp huyện vẫn không có thẩm quyền xem xét yêu cầu này của đương sự. Luật đã quy định rất rõ ràng, cụ thể nên nếu TAND cấp huyện cố tình giải quyết sẽ là việc làm vi phạm tố tụng nghiêm trọng về thẩm quyền.

Có ý kiến cho rằng, nếu căn cứ vào quy định trên sẽ dẫn đến TAND cấp Tỉnh sẽ bị quá tải khi phải giải quyết tranh chấp đất đai có liên quan đến hủy GCNQSDĐ, nên cần cho phép TAND cấp huyện được xem xét giải quyết vấn đề này. Đây là một ý kiến không phù hợp với tinh thần thượng tôn pháp luật và không có cơ sở để xem xét áp dụng vào thực tiễn. Vì trên hết, thủ tục hành chính là cách thức thể hiện quyền lực Nhà nước và xem xét cấp GCNQSDĐ là một quyết định hành chính có tính chất cực kỳ hệ trọng, liên quan đến một loại hình tài sản quan trọng của xã hội là đất đai. Do đó, để xem xét và quyết định cuối cùng về loại tài sản này, cần có một cơ quan Tư pháp cấp cao hơn trực tiếp giải quyết, nhằm tránh tình trạng cục bộ, kiêng nể địa phương. Đây cũng chính là tinh thần thay đổi, đổi mới và gỡ vướng mắt mà Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã mang lại.

Hơn nữa, trong văn bản Báo cáo số 15/BC-TANDTC ngày 15/3/2019, TAND Tối cao đã tái khẳng định thẩm quyền xét xử xem xét hủy GCNQSDĐ phải là của TAND cấp Tỉnh và tình trạng một số TAND cấp Huyện xem xét xét xử việc hủy GCNQSDĐ là không đúng thẩm quyền, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm và không được để tái diễn trong thời gian sắp tới.

LUẬT VẠN THÔNG