Thương mại điện tử

Sách luật

--- --- --- --- --- ---

BÀI MỚI NHẤT

Sở hữu chung, sở hữu riêng trong nhà chung cư

12:00 PM Thêm bình luận

   Sở hữu chung, sở hữu riêng trong nhà chung cư


VANTHONGLAW - Sở hữu chung và sở hữu riêng trong nhà chung cư luôn là thắc mắc mà các cư dân sinh sống trong chung cư muốn tìm hiểu. Bởi lẽ, việc xác định được sở hữu chung, sở hữu riêng trong nhà chung cư sẽ giảm thiểu được các rủi ro tranh chấp cũng như những mâu thuẫn phát sinh giữa cư dân và chủ thầu hoặc giữa các cư dân đang sinh sống trong một tòa chung cư.

Bài liên quan:

Nhà chung cư theo quy định của pháp luật là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh.

Người sở hữu căn hộ chung cư hoặc diện tích khác trong nhà chung cư được gọi là chủ sở hữu nhà chung cư.

Theo quy định của Luật Nhà ở 2014 thì:

- Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư là phần diện tích bên trong căn hộ hoặc bên trong phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư và các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ hoặc trong phần diện tích khác của chủ sở hữu nhà chung cư.

- Phần sở hữu chung của nhà chung cư là phần diện tích còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư đó.

Cụ thể, Điều 100 Luật Nhà ở 2014 quy định phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung của nhà chung cư như sau:

“1. Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm:

a) Phần diện tích bên trong căn hộ bao gồm cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó;

b) Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng cho chủ sở hữu nhà chung cư;

c) Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ hoặc gắn liền với phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng.

2. Phần sở hữu chung của nhà chung cư bao gồm:

a) Phần diện tích còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 1 Điều này; nhà sinh hoạt cộng đồng của nhà chung cư;

b) Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư bao gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, hệ thống cấp điện, cấp nước, cấp ga, hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc phần sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư;

c) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó, trừ hệ thống hạ tầng kỹ thuật sử dụng vào mục đích công cộng hoặc thuộc diện phải bàn giao cho Nhà nước hoặc giao cho chủ đầu tư quản lý theo nội dung dự án đã được phê duyệt;

d) Các công trình công cộng trong khu vực nhà chung cư nhưng không thuộc diện đầu tư xây dựng để kinh doanh hoặc phải bàn giao cho Nhà nước theo nội dung dự án đã được duyệt bao gồm sân chung, vườn hoa, công viên và các công trình khác được xác định trong nội dung của dự án đầu tư xây dựng nhà ở được phê duyệt.”

Điều 6 và Điều 7 Thông tư số 02/2016/TT-BXD về quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư như sau quy định về việc quản lý phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung như sau:

      Quản lý phần sở hữu riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu:

1. Phần diện tích và các thiết bị thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu quy định tại Khoản 1 Điều 100 của Luật Nhà ở phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua căn hộ hoặc phần diện tích khác không phải căn hộ trong nhà chung cư (sau đây gọi chung là hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ).

Kèm theo hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ, chủ đầu tư phải cung cấp bản vẽ theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 5 của Quy chế này cho người mua, thuê mua.

2. Trường hợp ký hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ trước ngày Quy chế này có hiệu lực thi hành thì việc xác định phần diện tích, các thiết bị thuộc sở hữu riêng và việc cung cấp các bản vẽ kèm theo được thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở tại thời điểm ký kết hợp đồng; trường hợp pháp luật về nhà ở không có quy định thì xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ.

3. Chủ sở hữu nhà chung cư có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác quản lý phần sở hữu riêng của mình nhưng việc sử dụng phần sở hữu riêng này phải bảo đảm đúng công năng thiết kế, đúng mục đích đã được phê duyệt và không được làm ảnh hưởng đến phần sở hữu riêng của các chủ sở hữu khác hoặc phần sở hữu chung của nhà chung cư.

      Quản lý phần sở hữu chung, sử dụng chung của nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu:

1. Phần diện tích và các hệ thống thiết bị thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư được xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều 100 của Luật Nhà ở và phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ. Kèm theo hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ phải có danh mục phần sở hữu chung theo quy định của Luật Nhà ở; phần sở hữu chung của nhà chung cư phải được sử dụng đúng mục đích, đúng công năng thiết kế được phê duyệt.

2. Đối với công trình phục vụ cho sinh hoạt của các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư mà thuộc diện phải bàn giao cho Nhà nước quản lý theo dự án được phê duyệt nhưng chưa bàn giao thì chủ đầu tư có trách nhiệm quản lý các công trình này; sau khi bàn giao cho Nhà nước thì đơn vị được Nhà nước giao quản lý chịu trách nhiệm quản lý, bảo trì và sử dụng theo đúng mục đích, công năng thiết kế được phê duyệt.

3. Đối với công trình phục vụ cho sinh hoạt của các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư mà chủ đầu tư xây dựng để kinh doanh theo nội dung dự án được phê duyệt thì chủ đầu tư có quyền sở hữu và chịu trách nhiệm quản lý, bảo trì công trình này.

4. Đối với phần sở hữu chung của tòa nhà chung cư có mục đích để ở thì các chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm cùng quản lý; nếu nhà chung cư phải có đơn vị quản lý vận hành thì giao cho đơn vị quản lý vận hành quản lý phần sở hữu này; trường hợp không thuộc diện phải có đơn vị quản lý vận hành thì hội nghị nhà chung cư quyết định giao cho Ban quản trị nhà chung cư hoặc giao cho đơn vị khác quản lý phần sở hữu chung này.

5. Đối với phần sở hữu chung của tòa nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp thì thực hiện quản lý theo quy định sau đây:

a) Trường hợp không phân chia riêng biệt được phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại với khu căn hộ thì các chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm cùng quản lý phần sở hữu chung này; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này;

b) Trường hợp phân chia riêng biệt được phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại với khu căn hộ thì chủ sở hữu khu căn hộ có trách nhiệm quản lý phần sở hữu chung của khu căn hộ; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. Đối với phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại thì do đơn vị quản lý vận hành quản lý, nếu nhà chung cư không phải có đơn vị quản lý vận hành thì do chủ sở hữu khu chức năng này thực hiện quản lý.

Đối với phần sở hữu chung của cả tòa nhà thì các chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm cùng quản lý; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này.

6. Đối với nhà sinh hoạt cộng đồng của tòa nhà chung cư thì do các chủ sở hữu hoặc Ban quản trị (nếu nhà chung cư có Ban quản trị) hoặc đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện quản lý theo quyết định của hội nghị nhà chung cư.

7. Đối với phần sở hữu chung của cụm nhà chung cư thì Ban quản trị của cụm nhà chung cư thay mặt các chủ sở hữu để quản lý phần sở hữu chung này.

8. Trường hợp ký hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ trước ngày Quy chế này có hiệu lực thi hành thì việc xác định phần sở hữu chung của nhà chung cư được thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở tại thời điểm ký kết hợp đồng; trường hợp pháp luật về nhà ở không có quy định thì xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ.

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Tư vấn ly hôn chia tài sản trong trường hợp vợ/chồng làm công việc nội trợ trong gia đình

7:30 PM Thêm bình luận

  Tư vấn ly hôn chia tài sản trong trường hợp vợ/chồng làm công việc nội trợ trong gia đình


VANTHONGLAW - Thưa luật sư, tôi đang trải qua một chuyện không thể nào chấp nhận được. Tôi và vợ kết hôn từ 2009. Từng là một phó phòng kinh doanh, nhưng tôi chấp nhận lùi về làm hậu phương, chăm sóc nhà cửa, đưa đón con cái trong thời gian vợ tôi đi du học nước ngoài rồi về đây lập nghiệp. Hơn 10 năm qua, một tay tôi chăm lo gia đình để vợ tôi yên tâm theo đuổi sự nghiệp. Vậy mà bây giờ cô ta ngoại tình với người khác, về nhà đòi ly dị với tôi. Thậm chí không chia cho tôi đồng nào vì cho rằng tôi chỉ là nội trợ, quanh quẩn trong xó bếp chứ không giúp được gì cho vợ con. Công sức của tôi không thể bị đạp đổ như vậy được. Chúng tôi có 1 căn nhà đứng tên chung, 1 ô tô góp tiền mua và vợ tôi đang sử dụng cùng với 2 chiếc xe máy, mỗi người đứng tên 1 chiếc. Xin luật sư cho tôi biết tôi cần làm gì để được chia đủ số tài sản thuộc về mình và giành quyền nuôi con gái. Con tôi thương tôi lắm, tôi nghe nói con lớn rồi được tự chọn ở với ai, con tôi năm nay 11 tuổi thì đó được chọn ở với tôi không? Cảm ơn luật sư.

Bài liên quan:

Trong trường hợp của quý độc giả nêu trên, tôi có đôi lời tư vấn như sau:

1.     Cần làm gì để được chia đủ số tài sản thuộc về mình?

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định rằng công việc nội trợ và những công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung cũng được xem như là lao động có thu nhập. Công việc chính của anh là chăm sóc nhà cửa, chăm lo cho gia đình, con cái. Đây là công việc quan trọng để duy trì đời sống chung. Như vậy công việc của anh theo quy định pháp luật sẽ được coi như là lao động có thu nhập và là người góp công sức để tạo thành khối tài sản chung của vợ chồng. Do đó, toàn bộ tài sản hình thành trong quá trình hôn nhân sẽ là tài sản chung của anh và vợ, việc vợ anh cho rằng anh không tạo ra thu nhập nên không được chia tài sản chung là không có cơ sở và trái quy định pháp luật.

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn về nguyên tắc là được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo đó, Thông tư liên tịch có nêu ví dụ về trường hợp lỗi do vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng như sau:

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Như vậy, vợ anh trong trường hợp này đã có hành vi ngoại tình nên có thể được xem là có lỗi. Do đó, anh có thể yêu cầu Tòa án xét đến yếu tố lỗi của người vợ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân.

2.     Cần làm gì để giành quyền nuôi con gái?

Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án sẽ xem xét vào nguyện vọng của con. Trường hợp này, con anh đã trên 07 tuổi nên Tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của cháu để quyết định người trực tiếp nuôi con.

Ngoài ra, Tòa án cũng sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu bé để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi. Như vậy, anh cần phải chứng minh mình có đủ điều kiện để chăm lo tốt cho con. Trong mỗi vụ việc, cách chứng minh là khác nhau, nhưng về cơ bản cần chứng minh được những điều kiện sau:

- Điều kiện vật chất: đủ điều kiện chăm lo cho cháu bé từ ăn học,...

- Thu nhập ổn định;

- Công việc ổn định;

- Nơi ở ổn định;

- Điều kiện tinh thần: có đủ sức khoẻ, thời gian để dạy dỗ, chăm sóc, giáo dục con; tình cảm dành cho con; nhân cách đạo đức;...

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Quy định pháp luật về kê biên tài sản đang tranh chấp và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng

10:30 AM Thêm bình luận

 Quy định pháp luật về kê biên tài sản đang tranh chấp và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng


VANTHONGLAW - Kê biên tài sản đang tranh chấp là một trong những biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng khi có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản. Khi tài sản bị kê biên sẽ được cơ quan thi hành án dân sự thu giữ, bảo quản hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án.

Bài liên quan:

Kê biên nghĩa là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển dịch tài sản của người vi phạm pháp luật. Như vậy, kê biên tài sản được hiểu là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

1. Trình tự và điều kiện để Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp

Bước 1: Phải có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Mẫu đơn):

- Trong quá trình giải quyết vụ án: do cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 BLTTDS 2015 yêu cầu để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án (được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP).

- Nộp đồng thời với đơn khởi kiện: do cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (được hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP).

Bước 2: Tòa án xem xét các điều kiện theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời:

- Tài sản đang tranh chấp là đối tượng của quan hệ tranh chấp mà Tòa án đang thụ lý giải quyết;

- Có tài liệu, chứng cứ chứng minh người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản đó.

Ví dụ: Có vi bằng của Thừa phát lại xác định việc người giữ tài sản có hành vi đập phá tài sản đang tranh chấp.

Bước 3: Nếu có đủ điều kiện nêu trên, Tòa án sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản. Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản:

- Trước khi mở phiên tòa: việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định.

- Tại phiên tòa: việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

2. Trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp

Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

Trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp mà người yêu cầu yêu cầu hoặc áp dụng không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà không có lý do chính đáng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường.

3. Tài sản không được áp dụng biện pháp kê biên

- Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng;

- Tài sản của cá nhân gồm: Lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu; thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh; vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống thiết yếu của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; đồ dùng sinh hoạt thiết yếu;

- Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm: Thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động; nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh; trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.

4. Thực tiễn áp dụng và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng1

Biện pháp khẩn cấp tạm thời có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong tố tụng dân sự. Ngoài mục đích đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hợp tình, hợp lý còn giúp thực thi hóa pháp luật nói chung và đảm bảo việc thực thi phán quyết của Tòa án nói riêng. Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, cũng tồn tại song song đó những mặt tiêu cực do quy định pháp luật còn tồn tại một số bất cập cũng như là một số hạn chế cần được khắc phục, hoàn thiện.

a)   Có sự trùng lặp về mục đích giữa biện pháp “kê biên tài sản đang tranh chấp” và “cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp”

Cụ thể, khoản 1 Điều 120 và Điều 121 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về mục đích của hai biện pháp trên như sau:

Điều 120. Kê biên tài sản đang tranh chấp

1. Kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản.

Điều 121. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác.”

Mặc dù pháp luật cho rằng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp áp dụng trong trường hợp có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản; còn biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp áp dụng trong trường hợp nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác. Tuy nhiên, về bản chất, hành vi chuyển dịch quyền về tài sản thực chất cũng là một dạng hành vi nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Bên cạnh đó, tài sản khi bị kê biên thì cũng mặc nhiên không thể bị chuyển dịch về quyền tài sản.

Đồng thời, luật quy định chủ thể bị áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản là người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản tranh chấp; còn chủ thể bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp là người giữ tài sản đang tranh chấp. Nhưng trên thực tế, người đang chiếm hữu tài sản đang tranh chấp mà có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản thì cũng cần phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp. Hơn nữa, “kê biên tài sản” là ghi lại từng tài sản, cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển dịch tài sản của người vi phạm pháp luật; còn “chuyển dịch quyền về tài sản” là làm thay đổi quyền về tài sản. Do đó, xét về mặt ngôn ngữ thì “kê biên tài sản” có nội hàm rộng hơn và bao trùm cả “cấm chuyển dịch quyền về tài sản”.

b)    Quy định thiếu về chủ thể quản lý tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Như đã được phân tích ở trên, chủ thể bị áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản là người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản tranh chấp; còn chủ thể bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp là người giữ tài sản đang tranh chấp. Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định về chủ thể là chủ sở hữu đối với tài sản đang tranh chấp. Do đó, trong trường hợp chủ sở hữu tài sản đang tranh chấp nhưng đang không chiếm hữu hoặc đang giữ tài sản đang tranh chấp thì không có cơ sở để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

c)     Chưa có hướng dẫn cụ thể về việc xác định “tài sản đang tranh chấp”

Trên thực tế, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn về việc xác định tài sản đang tranh chấp. Từ đó, dẫn đến trên thực tế tồn tại hai cách hiểu khác nhau:

Cách 1: “Tài sản đang tranh chấp” là tài sản đang bị tranh chấp quyền sở hữu, đang bị đòi lại, bị yêu cầu hoàn trả, không bao gồm tài sản là đối tượng của các giao dịch đang tranh chấp.

Cách 2: “Tài sản đang tranh chấp” được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm tài sản đang có tranh chấp về việc ai là người có quyền sở hữu, sử dụng, chiếm hữu và tài sản là đối tượng của các giao dịch đang tranh chấp.

Như vậy, từ những phân tích trên có thể thấy rằng, để áp dụng một cách thống nhất và hiệu quả biện pháp kê biên tài sản nói riêng và các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nói chung đòi hỏi pháp luật phải có quy định chặt chẽ hơn và bổ sung thêm một số quy định còn thiếu, chưa rõ ràng.

04 Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2023

5:30 PM Thêm bình luận

04 Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2023


VANTHONGLAW - Chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết Dương lịch Quý Mão 2023, đây cũng là thời điểm mà một số văn bản luật sẽ có hiệu lực pháp luật. Sau đây, mời quý độc giả cùng điểm qua 04 văn bản luật sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2023.

Bài liên quan:

1.     Luật Sở hữu trí tuệ 2022 sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

Luật Sở hữu trí tuệ 2022 sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được Quốc hội khóa XV thông qua vào kỳ họp thứ 3, ngày 16/6/2022 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023 (trừ quy định về bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu âm thanh đã có hiệu lực thi hành từ ngày 14/01/2022 và quy định về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dùng cho nông hóa phẩm sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 14/01/2024).

Theo Cổng thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ, Luật sửa đổi, bổ sung 2022 tập trung vào 07 nhóm chính sách lớn bao gồm:

Chính sách 1: Đảm bảo quy định rõ về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp chuyển nhượng, chuyển giao Quyền tác giả (QTG), Quyền liên quan đến quyền tác giả (QLQ), cụ thể:

- Các quy định liên quan đến xác định chủ thể nắm giữ quyền tài sản (chủ sở hữu, tác giả, người biểu diễn) được quy định rõ ràng và cụ thể hơn, giúp cho quá trình chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng trong các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao QTG, QLQ được thuận lợi hơn.

- Điểm nổi bật của Luật là quy định cho phép chuyển giao một số quyền nhân thân theo thỏa thuận (thỏa thuận đặt tên, sửa đổi tác phẩm) phù hợp với đặc thù của lĩnh vực quyền tác giả nhằm giải quyết những vướng mắc tồn tại trong thực tiễn thời gian qua như trường hợp có nhu cầu thay đổi tên tác phẩm, sửa đổi, nâng cấp chương trình máy tính v.v.

Chính sách 2: Khuyến khích tạo ra, khai thác và phổ biến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng được tạo ra từ nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách Nhà nước:

Luật quy định trao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, đồng thời có cơ chế phân chia hợp lý lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW Đảng khóa 11.

Quy định này không chỉ khắc phục các bất cập hiện nay về việc đăng ký và khai thác các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ do nhà nước đầu tư mà còn là cú hích để khuyến khích các chủ thể nghiên cứu nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ động đăng ký, khai thác các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng được tạo ra; thúc đẩy quan hệ hợp tác với doanh nghiệp để chuyển giao công nghệ, thương mại hóa và thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư để phát triển, nghiên cứu sản phẩm, qua đó thu về nhiều lợi ích kinh tế cũng như đạt được các mục tiêu về an sinh xã hội.

Chính sách 3: Tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện thủ tục đăng ký QTG, QLQ, thủ tục xác lập quyền SHCN:

Theo đó, dù là quyền được xác lập tự động mà không qua đăng ký (trong lĩnh vực QTG, QLQ) hay phải đăng ký (lĩnh vực SHCN), thì các quy định liên quan đến thủ tục, thời hạn, thành phần hồ sơ v.v. tiếp tục được hoàn thiện theo hướng gọn nhẹ, nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch để khuyến khích, gia tăng hoạt động đăng ký, xác lập quyền SHTT nhằm tạo cơ sở, bằng chứng vững chắc trong việc xác định chủ thể quyền và đối tượng được bảo hộ, làm tiền đề cho việc khai thác quyền cũng như thực thi quyền sau này.

Một số sửa đổi cụ thể bao gồm: tạo cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký trực tuyến QTG, QLQ; phân luồng ý kiến người thứ ba để đẩy nhanh quá trình thẩm định đơn; đơn giản hóa bản mô tả kiểu dáng công nghiệp; giới hạn việc kiểm soát an ninh đối với sáng chế; cho phép trì hoãn công bố đơn kiểu dáng công nghiệp; bổ sung một số quy định đặc thù về thủ tục giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực SHCN.

Chính sách 4: Đảm bảo mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng trong bảo hộ quyền SHTT, cụ thể:

Các quy định liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHTT được sửa đổi, hoàn thiện để bảo đảm mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng giữa một bên là quyền lợi của chủ thể quyền và một bên là quyền sử dụng, quyền tiếp cận tri thức, công nghệ của xã hội. Cụ thể:

- Bổ sung một số trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG, QLQ, các giới hạn QTG, QLQ nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa chủ thể quyền tác giả với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ tiếp cận tác phẩm, đảm bảo thực thi các cam kết quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

- Bổ sung một số quy định nhằm kiểm soát sáng chế có sử dụng nguồn gen và tri thức truyền thống về nguồn gen; bổ sung một số căn cứ chấm dứt hiệu lực, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ (sáng chế, nhãn hiệu); xử lý xung đột giữa nhãn hiệu với tên giống cây trồng, với đối tượng QTG, QLQ; sửa đổi các quy định về chủ thể đối với chỉ dẫn địa lý; làm rõ điều kiện bị coi là cạnh tranh không lành mạnh giữa tên miền với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý có trước.

Chính sách 5: Tăng cường hiệu quả hoạt động hỗ trợ về SHTT

Các nội dung sửa đổi nhằm đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ cho hệ thống SHTT (bao gồm hoạt động đại diện, giám định), cụ thể là sửa đổi, bổ sung một số quy định theo hướng mở hơn nhằm tạo tính cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ đại diện (phân chia đại diện theo lĩnh vực; nới lỏng điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề đại diện tùy theo lĩnh vực); sửa đổi quy định về giám định theo hướng xác định rõ phạm vi giữa giám định SHTT với giám định tư pháp về SHTT; làm rõ ý nghĩa mang tính chứng cứ của kết luận giám định SHTT);

Chính sách 6: Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT

Các quy định liên quan đến thực thi quyền được sửa đổi nhằm bảo đảm cơ chế bảo vệ quyền SHTT được hiệu quả, hợp lý và khả thi hơn, trong đó đáng chú ý là quy định bổ sung thẩm quyền chủ động áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới nếu trong quá trình kiểm tra, giám sát và kiểm soát cơ quan hải quan phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất, nhập khẩu là hàng giả mạo SHTT.

Chính sách 7: Bảo đảm thi hành đầy đủ và nghiêm túc các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo hộ SHTT trong quá trình hội nhập, cụ thể:

- Sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến biện pháp công nghệ bảo vệ quyền và thông tin quản lý quyền để đảm bảo thực thi trong môi trường số; một số quy định về ngoại lệ QTG, QLQ;

- Sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu âm thanh; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu; cơ chế bảo đảm thông tin cho chủ bằng sáng chế thực thi quyền trong thủ tục cấp phép lưu hành thị trường đối với dược phẩm; nghĩa vụ bảo hộ dữ liệu bí mật trong đơn xin cấp phép nông hóa phẩm; cơ chế đền bù cho chủ sở hữu sáng chế vì sự chậm trễ trong việc cấp phép lưu hành dược phẩm; giả định về QTG, QLQ; quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trên môi trường mạng Internet và mạng viễn thông; nghĩa vụ chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bị nghi ngờ là hàng giả mạo SHTT.

2.     Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022

Theo đó, ngày 16/6/2022, Quốc hội đã ban hành Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2023, trừ một số trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 156.

Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 có hiệu lực sẽ thay thế Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010, năm 2019).

Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 ra đời được xem là một sự cấp thiết trong thời buổi hiện nay, khi mà ngành kinh doanh bảo hiểm đối diện với nhiều vấn đề pháp lý không được quy định rõ ràng, quyền lợi của người mua bảo hiểm không được đảm bảo.

Theo thông tin của Cổng thông tin điện tử Chính Phủ về xây dựng chính sách, pháp luật, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 sẽ có các điểm mới theo hướng sau:

- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm chủ động phát triển sản phẩm bằng các thay đổi phương thức quản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp cho phép xác định vốn và quản lý doanh nghiệp theo rủi ro đặc thù của từng doanh nghiệp;

- Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn tối đa 100% vốn điều lệ;

- Cắt giảm thủ tục hành chính; tăng tính bảo vệ quyền và lợi ích của bên mua bảo hiểm. Cụ thể sửa đổi theo hướng bãi bỏ một số bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không với hành khác; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Ngoài ra để cắt giảm thủ tục hành chính, Luật Kinh doanh bảo hiểm còn bãi bỏ quy định phải chấp thuận đối với đóng, mở, thay đổi địa điểm đặt chi nhánh, văn phòng đại diện và thay bằng hình thức thông báo với Bộ Tài chính trước khi có thay đổi.

- Tạo điều kiện phát triển bảo hiểm vi mô: Luật Kinh doanh bảo hiểm đưa ra định nghĩa về bảo hiểm vi mô, các điểm đặc trưng của sản phẩm bảo hiểm vi mô, theo đó, sản phẩm bảo hiểm vi mô phải được thiết kế đơn giản, hướng tới các nhu cầu bảo hiểm cơ bản, phí bảo hiểm thấp nhằm phù hợp với với nhu cầu và khả năng chi trả của mọi người dân đặc biệt là dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa, người có thu nhập thấp, người yếu thế. Luật Kinh doanh bảo hiểm cho phép 02 tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô là “doanh nghiệp bảo hiểm” và “tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô”. Đây là hai tổ chức phổ biến nhất cung cấp bảo hiểm vi mô trên thế giới.

3.     Luật Điện ảnh năm 2022

Theo phát biểu của Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông, Luật Điện ảnh 2022 thay thế Luật điện ảnh năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2018) sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023 với 10 điểm mới cơ bản phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Thứ nhất, về khái niệm, Luật mới đã kế thừa, sửa đổi, bổ sung các khái niệm thuật ngữ quy định tại Luật Điện ảnh năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2018) và bổ sung thuật ngữ “Công nghiệp điện ảnh”, “Phân loại phim”, “Phim Việt Nam”, “Trường quay” và “Địa điểm chiếu phim công cộng”. Trong đó, việc sửa đổi, bổ sung khái niệm “Phim” đóng vai trò quan trọng, qua đó xác định rõ những loại sản phẩm nào trong lĩnh vực nghe nhìn được Luật Điện ảnh điều chỉnh.

Thứ hai, về chính sách của Nhà nước về phát triển điện ảnh, công nghiệp điện ảnh (Điều 5): Luật Điện ảnh năm 2022 quy định việc đầu tư và hỗ trợ vào một khoản (khoản 2 Điều 5) nhằm tạo sự linh hoạt trong chính sách của Nhà nước đối với hoạt động điện ảnh; Luật đã thể hiện rõ hơn cơ chế, biện pháp của Nhà nước huy động mọi nguồn lực đầu tư, phát triển điện ảnh, công nghiệp điện ảnh; sắp xếp lại theo nhóm chính sách để bảo đảm tính logic, phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư, ngân sách Nhà nước đồng thời khuyến khích tăng cường, xã hội hóa hoạt động điện ảnh.

Thứ ba, về những nội dung và hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động điện ảnh (Điều 9), Luật quy định chi tiết, cụ thể hơn những nội dung và hành vi bị cấm trong hoạt động điện ảnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ Luật.

Thứ tư, về sản xuất phim (Chương II), những điểm mới quan trọng được quy định tại Luật bao gồm: Hoạt động cung cấp dịch vụ quay phim sử dụng bối cảnh tại Việt Nam (Điều 13), Luật quy định hồ sơ xin cấp phép chỉ yêu cầu kịch bản tóm tắt phim và kịch bản chi tiết nội dung quay tại Việt Nam thay vì kịch bản phim đầy đủ theo quy định tại Luật Điện ảnh năm 2006.

Bên cạnh đó, về sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 14) được thực hiện dưới ba hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu khác với Luật Điện ảnh năm 2006 chỉ quy định hình thức đấu thầu. Luật cũng mở rộng đối tượng chủ đầu tư sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp ở trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Thứ năm, về chế độ ưu đãi đối với tổ chức nước ngoài sử dụng dịch vụ sản xuất phim Việt Nam (Điều 41), Thứ trưởng Tạ Quang Đông nhấn mạnh, đây là nội dung hoàn toàn mới được quy định tại Luật nhằm góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ làm điện ảnh, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, thúc đẩy phát triển điện ảnh, du lịch và các ngành dịch vụ liên quan. Kinh nghiệm một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng áp dụng chính sách ưu đãi này để tạo sức hấp dẫn đối với các tổ chức nước ngoài sử dụng dịch vụ sản xuất phim.

Thứ sáu, về phát hành phim (Chương III), Luật không quy định phát hành phim là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm tạo thuận lợi cho việc đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực phát hành phim.

Thứ bảy, về phổ biến phim (Chương IV), Phổ biến trên không gian mạng (Điều 21), Luật đã quy định rõ đối tượng chủ thể được phép phổ biến phim trên không gian mạng, đồng thời quy định thêm về các yêu cầu, điều kiện cần bảo đảm khi phổ biến phim trên không gian mạng như đáp ứng điều kiện thực hiện phân loại phim theo quy định của Chính phủ, thông báo danh sách phim sẽ phổ biến và kết quả phân loại phim cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước khi thực hiện phổ biến phim trên không gian mạng. Thực hiện biện pháp kỹ thuật cần thiết và hướng dẫn để cha, mẹ hoặc người giám hộ của trẻ em tự kiểm soát, quản lý, bảo đảm trẻ em xem phim được phổ biến trên không gian mạng phù hợp với độ tuổi, cung cấp đầu mối, thông tin liên hệ để tiến nhận, xử lý các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước; phản ánh, khiếu nại, tố cáo của người sử dụng dịch vụ.

Về cấp Giấy phép phân loại phim, thẩm định và phân loại phim (Điều 27 và Điều 31), Luật quy định phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép phân loại phim khi đáp ứng các quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nội dung về phân cấp không hoàn toàn là nội dung mới trong luật, tuy nhiên quy định mới mang tính khả thi đáp ứng điều kiện thực tế hơn so với quy định tại Luật Điện ảnh năm 2006.

Về phân loại phim (Điều 32), phim Việt Nam chiếu tại rạp đã thực hiện phân loại theo độ tuổi từ năm 2017. Tuy nhiên quy định này chỉ mới áp dụng đối với phim chiếu tại rạp và chỉ được quy định tại Thông tư. Luật Điện ảnh năm 2022 quy định việc phân loại độ tuổi và hiển thị mức phân loại phim, cảnh báo nội dung phim áp dụng chung cho các phim chiếu trên mọi hình thức phổ biến.

Thứ tám, về lưu chiểu, lưu trữ phim (Chương V), định dạng kỹ thuật của phim thay đổi từ chất liệu phim nhựa sang phim phim kỹ thuật số nên Luật bổ sung một số quy định mới nhằm phù hợp với công nghệ điện ảnh như thời hạn lưu chiểu đối với phim nhập khẩu căn cứ theo thời hạn bản quyền phổ biến tại Việt Nam, phim Việt Nam sản xuất bằng nguồn ngân sách nhà nước phải chuyển bản phim lưu chiểu không khóa mã, kịch bản và tài liệu đi kèm cho cơ sở lưu trữ phim; Trả lại bản phim lưu chiểu cho cơ sở nộp lưu chiểu khi hết thời hạn lưu chiểu. Chủ sở hữu phim phải mở khóa mã phim để đối chiếu, kiểm tra khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ chín, về liên hoan phim, giải thưởng phim, cuộc thi phim, chương trình phim và tuần phim tại Việt Nam (Điều 38), so với Luật điện ảnh năm 2006, Luật Điện ảnh năm 2022 đã mở rộng chủ thể được tổ chức liên hoan phim nhằm huy động nguồn lực xã hội tham gia quảng bá, tôn vinh điện ảnh trong nước. Cụ thể các Bộ, ban, ngành, các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp được tự tổ chức liên hoan phim, giải thưởng, cuộc thi phim, chương trình phim và tuần phim tại Việt Nam. Cơ quan, tổ chức không thuộc đối tượng nêu trên được phép tổ chức liên hoan phim, giải thưởng phim, cuộc thi phim, chương trình phim và tuần phim tại Việt Nam.

Thứ mười, về Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh, so với Luật Điện ảnh năm 2006, Luật đã bổ sung và làm rõ thêm mục đích của Quỹ (Điều 44) và nguyên tắc hoạt động của Quỹ (Điều 45) nhằm nâng cao tính khả thi.

4.     Luật Cảnh sát cơ động 2022

Ngày 14/6/2022, Quốc hội đã thông qua Luật Cảnh sát cơ động 2022 tại kỳ họp thứ 3, khóa XV với 10 điểm mới nổi bật như sau:

1. Thêm hành vi bị nghiêm cấm đối với Cảnh sát cơ động;

2. Điểm mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát cơ động;

3. Quy định về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ của Cảnh sát cơ động;

4. Quyền huy động người, phương tiện, thiết bị dân sự của Cảnh sát cơ động;

5. 04 đối tượng được phép điều động Cảnh sát cơ động;

6. Quy định về phối hợp thực hiện nhiệm vụ của Cảnh sát cơ động;

7. Đầu tư trang bị hiện đại, khoa học công nghệ cho lực lượng Cảnh sát cơ động;

8. Điều chỉnh quy định về cấp nhà ở công vụ cho Cảnh sát cơ động;

9. Ai được tuyển chọn vào Cảnh sát cơ động?

10. Ưu tiên thực hiện chính sách về nhà ở xã hội cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động.

Theo Bộ Công an, việc ban hành Luật Cảnh sát cơ động không chỉ có ý nghĩa trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của lực lượng Cảnh sát cơ động mà còn có ý nghĩa to lớn, đánh dấu bước chuyển mình mới của lực lượng này, góp phần tích cực hơn trong sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Bích Trâm
---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Popular Posts