Thương mại điện tử

Sách luật

--- --- --- --- --- ---

BÀI MỚI NHẤT

“Lùa gà chứng khoán” là gì? Người có hành vi “lùa gà” sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?

9:00 AM Thêm bình luận

“Lùa gà chứng khoán” là gì? Người có hành vi “lùa gà” sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?


 VANTHONGLAW - Trong những năm gần đây, thị trường chứng khoán đã có sự bùng nổ mạnh mẽ kéo theo đó là những rủi ro tiềm tàng cũng như là những cạm bẫy tài chính mà các nhà đầu tư phải đối mặt. Một trong những cạm bẫy phổ biến và đang được lên án mạnh mẽ trong lĩnh vực này là hiện tượng “lùa gà chứng khoán”. Bài viết pháp lý này sẽ giúp người đọc hiểu thêm về hiện tượng lùa gà này.

“Lùa gà” theo nghĩa đen là hành vi của cá nhân lùa đàn gà vào chuồng. Nhưng theo cách hiểu ngày nay, “gà” thường được dùng để chỉ những người chưa có kinh nghiệm hoặc hiểu biết về một lĩnh vực nào đó. Từ đó, ta có thể hình dung được hành vi “lùa gà” mà mọi người thường dùng ngày nay là để chỉ một người hoặc một nhóm người, tổ chức có kinh nghiệm trong một lĩnh vực cụ thể bằng các thủ đoạn, hành vi gian dối dẫn dắt những người chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực đó vào chuồng (bẫy) mà họ đặt ra.

Như vậy, “lùa gà chứng khoán” được hiểu là những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán bằng hành vi gian dối tạo ra những thông tin giả nhằm dẫn dắt những nhà đầu tư mới tham gia vào bẫy chứng khoán mà họ đặt ra để thu lợi nhuận.

Hành vi lùa gà chứng khoán sẽ có những biểu hiện như sau:

-     Biết rõ sản phẩm, dịch vụ mình giới thiệu, quảng cáo không có lợi nhuận mà còn phải chịu rủi ro cao nhưng lại che giấu sự thật, không nói với khách hàng;

-        Biết chắc rằng khi một người rót tiền mua sản phẩm, dịch vụ sẽ phải chịu thiệt hại nhưng vẫn cam kết và thúc đẩy người mua;

-        Chỉ quan tâm đến việc hưởng lợi của bản thân bất chấp thiệt hại của người khác.

Một vài ví dụ về hành vi lùa gà hiện nay:

-      Một người đi dạy các khóa học về tài chính, kinh tế, chứng khoán lợi dụng sự tin tưởng của người khác để quảng cáo, chào bán các loại chứng khoán có độ rủi ro cao, không sinh lợi nhằm hưởng lợi.

-        Một người hay chia sẻ các bài viết, kiến thức về chứng khoán trên trang cá nhân, blog và thường xuyên chia sẻ về sự thành công của họ khi đầu tư vào chứng khoán. Từ đó, có được sự tin tưởng của mọi người để quảng cáo trá hình các loại chứng khoán rủi ro, không sinh lợi nhuận nhằm hưởng lợi từ những người chưa am hiểu về thị trường chứng khoán,...

-        ….

Một điểm chung của những người lùa gà chứng khoán hiện nay là thường phô trương rất nhiều về sự thành công cũng như là kiến thức trên thị trường chứng khoán nhằm tạo dựng thương hiệu, lòng tin từ những nhà đầu tư mới bước chân vào lĩnh vực này mà chưa có sự am hiểu nhất định về nó. Tuy nhiên, không phải bất kỳ cá nhân nào phô trương về sự thành công của họ cũng vì mục đích lùa gà mà trên thực tế vẫn có nhiều cá nhân rất am hiểu và thành công trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán. Chính vì vậy, mỗi cá nhân trước khi tham gia đầu tư chứng khoán cần phải trang bị một kiến thức nền vững chắc về chứng khoán để tránh rơi vào trường hợp bị một nhóm người “lùa gà”.

Hành vi lùa gà của các cá nhân, tổ chức là một hành vi trái pháp luật và gây ảnh hưởng xấu đến thị trường chứng khoán nước ta, gây ra những biến động và cái nhìn tiêu cực về về thị trường chứng khoán Việt Nam. Điển hình gần đây nhất là vụ việc “thổi giá” cổ phiếu để “lùa gà” của Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC đã gây tổn thất lớn về kinh tế cho rất nhiều nhà đầu tư. Theo quy định của pháp luật, những hành vi gian dối như lùa gà nhằm mục đích hưởng lợi gây ảnh hưởng xấu đến thị trường chứng khoán sẽ phải chịu trách nhiệm như sau:

1.     Xử phạt hành chính:

Theo quy định tại Nghị định số 156/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP thì các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán bao gồm:

-        Vi phạm quy định về chào bán, phát hành chứng khoán riêng lẻ;

-        Vi phạm quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam;

-       Vi phạm quy định về phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, chào bán chứng khoán tại nước ngoài và phát hành chứng khoán mới làm cơ sở chào bán chứng chỉ lưu ký chứng khoán tại nước ngoài hoặc hỗ trợ phát hành chứng chỉ lưu ký chứng khoán tại nước ngoài trên cơ sở cổ phiếu đã phát hành tại Việt Nam;

-        Vi phạm quy định phát hành thêm cổ phiếu;

-        Vi phạm quy định về công ty đại chúng;

-        Vi phạm quy định về chào mua công khai;

-        Vi phạm quy định về niêm yết chứng khoán, đăng ký giao dịch chứng khoán;

-        Vi phạm quy định về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán;

-      Vi phạm quy định về kinh doanh chứng khoán và hành nghề chứng khoán; vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán;

-       Vi phạm quy định về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán, ngân hàng giám sát, ngân hàng lưu ký;

-       Vi phạm quy định công bố thông tin và báo cáo; vi phạm quy định về kiểm toán công ty đại chúng, tổ chức niêm yết, tổ chức thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;

-     Vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán;

-        Vi phạm quy định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với các hành vi vi phạm hành chính trên, Nghị định số 156/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP quy định các hình thức xử phạt bao gồm:

      Hình thức xử phạt chính:

-        Cảnh cáo;

-        Phạt tiền;

-        Đình chỉ giao dịch chứng khoán có thời hạn từ 01 tháng đến 12 tháng;

-      Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đăng ký hoạt động văn phòng đại diện, chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng.

      Hình thức xử phạt bổ sung:

-     Đình chỉ hoạt động chào mua công khai; hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán; hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán; hoạt động văn phòng đại diện; hoạt động lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; giao dịch chứng khoán hoặc các hoạt động khác được ghi trong quyết định xử phạt trong thời hạn từ 01 tháng đến 12 tháng;

-       Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đăng ký hoạt động văn phòng đại diện, chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng, trong trường hợp không áp dụng là hình thức xử phạt chính theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;

-       Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán.

    Biện pháp khắc phục hậu quả: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán mà còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định số 156/2020/NĐ-CP và Nghị định 128/2021/NĐ-CP.

2.     Trách nhiệm hình sự: Ngoài ra, nếu đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì cá nhân, tổ chức có hành vi “lùa gà” còn phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội như sau:

-      Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán tại Điều 209 BLHS;

-       Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán theo quy định tại Điều 210 BLHS;

-       Tội thao túng thị trường chứng khoán theo quy định tại Điều 211 BLHS;

-     Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán theo quy định tại Điều 212 BLHS.

3.     Trách nhiệm dân sự:

Bên cạnh việc bị xử phạt hành chính và chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp hành vi của tổ chức, cá nhân đó đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, những nhà đầu tư là người bị hại của các tổ chức, cá nhân lùa gà này cũng có thể khởi kiện yêu cầu các cá nhân, tổ chức đó phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định của pháp luật dân sự.

                                                                                                                BÍCH TRÂM

---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Ngày 03/8/2022, Bộ Y Tế ban hành công văn khẳng định: "Đồng tính không phải là bệnh"

5:30 PM Thêm bình luận

Ngày 03/8/2022, Bộ Y Tế ban hành công văn khẳng định: "Đồng tính không phải là bệnh"


 VANTHONGLAW - Trong ngày 03/08/2022, Bộ Y Tế đã ban hành công văn số 4132/BYT-PC chấn chỉnh công tác khám bệnh, chữa bệnh đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới gửi các đơn vị để chấn chỉnh về thực trạng các cơ sở khám, chữa bệnh tuyên truyền, tự nhận là chữa khỏi “bệnh đồng tính”. Việc tự nhận có thể chữa khỏi “bệnh đồng tính” đã khiến người dân hiểu lầm đồng tính là một căn bệnh và cần phải chữa trị. Theo đó, công văn chỉ đạo của Bộ Y Tế có nội dung: “Không coi đồng tính, song tính, chuyển giới là bệnh nên không thể can thiệp, ép buộc điều trị mà chỉ hỗ trợ về tâm lý và do người có hiểu biết về bản dạng giới thực hiện”. Như vậy, công văn chỉ đạo của Bộ Y Tế đã khẳng định rằng đồng tính không phải là bệnh và không thể chữa khỏi.

Đứng trên phương diện Quốc tế để nhìn nhận về vấn đề này, thì các tổ chức quốc tế cũng khẳng định rằng đồng tính không phải là một căn bệnh. Theo đó, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khẳng định đồng tính hoàn toàn không phải là bệnh, vậy nên đồng tính không thể “chữa”, không cần “chữa” và cũng không thể làm cách nào thay đổi được.

Cụ thể, vào ngày 17/5/1990, WHO đã chính thức loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh Tâm thần. Kể từ năm 1994, đồng tính luyến ái không còn bị coi là bệnh, không có tên trong bảng DSM 5 (Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê rối loạn tâm thần).

Theo đó, WHO đã xác định đồng tính là những người có xu hướng tính dục với người đồng giới. Đồng tính và chuyển giới được WHO đưa ra khỏi chương Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi trong Danh mục các bệnh Quốc tế (ICD), lần lượt vào năm 1990 và 2019.

Như vậy, có thể khẳng định đồng tính không phải bệnh và không cần phải chữa trị cũng như là làm thay đổi nó bởi lẽ đó là một kiểu xu hướng tính dục.

Hiện nay, chưa có thống kê cụ thể về số lượng người đồng tính tại Việt Nam do còn nhiều người chưa công khai xu hướng tính dục thật của mình. Tuy nhiên, có rất nhiều quan điểm cho rằng trong xã hội ngày nay, số lượng người đồng tính ngày càng gia tăng và nguyên nhân chủ yếu là nhận thức sai lệch hoặc ảnh hưởng từ bạn bè. Khi đó, các bậc phụ huynh biết con mình là người đồng tính thì thường khó chấp nhận và tìm cách chữa trị cho con của mình. Nhưng trên thực tế, việc chữa trị đồng tính là không thể bởi lẽ các nghiên cứu y học đã khẳng định rằng đây không phải là một căn bệnh. Chính vì vậy, phụ huynh khi biết con mình là người đồng tính thì cần có cái nhìn thoáng hơn, nên tìm hiểu rõ đồng tính là gì để chấp nhận bản thân con mình, tránh gây ra áp lực hoặc làm ảnh hưởng đến tâm lý của con cái.

Việc ban hành công văn chỉ đạo của Bộ Y Tế được xem là giúp mọi người hiểu thêm về xu hướng tính dục này. Từ đó, giúp giảm tỷ lệ kỳ thị, phân biệt, đối xử đối với người đồng tính và tạo điều kiện cho người đồng tính có cơ hội thể hiện bản thân trong xã hội.

Cũng trong Công văn số 4132/BYT-PC, Bộ Y tế đề nghị Thủ trưởng các Đơn vị chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của mình quán triệt các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong toàn quốc:

-      Tăng cường tuyên truyền, phổ biến để các bác sĩ, nhân viên y tế và người dân đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hiểu đúng về người đồng tính, song tính và chuyển giới;

-       Khi tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người đồng tính, song tính, chuyển giới phải bình đẳng, tôn trọng về giới tính, không phân biệt đối xử, kỳ thị đối với các đối tượng này;

-       Không coi đồng tính, song tính, chuyển giới là một bệnh.

-      Không can thiệp, ép buộc điều trị đối với các đối tượng này, nếu có chỉ là hỗ trợ về tâm lý và do người có hiểu biết về bản dạng giới thực hiện.

-    Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; người hành nghề trong việc thực hiện, tuân thủ các nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo đúng quy định của pháp luật.

Những đề nghị trên của Bộ Y Tế là cần thiết để tạo ra một môi trường y tế lành mạnh, tránh phân biệt giới tính, đồng thời khẳng định sự bình đẳng của người người đồng tính, hạn chế phân biệt đối xử giữa các bệnh nhân là người đồng tính. Quan điểm trên cũng đúng với tinh thần tại Điều 16 Hiến pháp nước ta:

“1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.”

Ngoài ra, mọi người cũng nên có cái nhìn khách quan và hiểu biết đúng về đồng tính để từ đó xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, thấu hiểu và chia sẻ.

                                                                                                        BÍCH TRÂM

---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG

Bồi thường chi phí đầu tư vào đất trong trường hợp không được bồi thường về đất

9:00 AM Thêm bình luận

Bồi thường chi phí đầu tư vào đất trong trường hợp không được bồi thường về đất 


VANTHONGLAW - Kể từ ngày 18/12/19980, khi Hiến pháp năm 1980 của nước ta ra đời, đất nước ta chỉ tồn tại một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai là chế độ công hữu dưới tên gọi “sở hữu toàn dân”. Theo đó, đất đai thuộc sở hữu của toàn thể nhân dân nhưng Nhà nước sẽ là chủ thể đại diện nhân dân thực hiện quyền sở hữu bằng các hoạt động: quản lý thông tin, dữ liệu và tài chính về đất đai; điều phối đất đai thông qua việc lập kế hoạch sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất,...hoặc quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. 

Khi có quyết định thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh, kinh tế,...thì theo nguyên tắc, Nhà nước phải lập kế hoạch bồi thường cho người sử dụng đất đủ điều kiện được bồi thường về nhà và đất. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, người sử dụng đất đều đáp ứng được các điều kiện để được bồi thường về đất. Chính vì vậy, ngoài quy định về nguyên tắc bồi thường về đất và tài sản trên đất thì pháp luật đất đai cũng quy định về các trường hợp mặc dù không được bồi thường về đất nhưng vẫn được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của người sử dụng đất.

1.     Các trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất:

Theo quy định tại Điều 76 Luật Đất đai 2013 thì các trường hợp sau người sử dụng đất khi bị thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng không được bồi thường về đất nhưng vẫn được bồi thường đối với các chi phí đầu tư vào đất còn lại:

-      Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;

-    Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

-       Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

-        Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

-        Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định  số 47/2014/NĐ-CP bao gồm:

-     Chi phí san lấp mặt bằng;

-     Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

-    Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

-      Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất.

2.     Điều kiện xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 47/2014/NĐ-CP được hướng dẫn cụ thể tại Điều 3 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT thì người sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện về hồ sơ để chứng minh về các khoản đầu tư vào đất như sau:

    Có hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất. Trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại.

-      Văn bản, hợp đồng thuê, khoán san lấp mặt bằng, tôn tạo đất đối với đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê, cải tạo đất, chống xói mòn, chống xâm thực, xây dựng, gia cố nền đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

-      Văn bản, thanh lý hợp đồng; hóa đơn, chứng từ thanh toán đối với từng khoản chi phí đã đầu tư vào đất quy định tại Điểm a Khoản này;

-      Văn bản, hợp đồng khác có liên quan đến việc đầu tư vào đất được xác lập tại thời điểm đầu tư.

-     Người có đất thu hồi không có một trong các loại giấy tờ nêu trên nhưng thực tế đã có đầu tư vào đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình cụ thể tại địa phương quyết định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại.

    Chi phí đầu tư vào đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

3.     Công thức tính chi phí đầu tư vào đất:

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 47/2014/NĐ-CP thì công thức tính chi phí đầu tư vào đất tính như sau:

Chi phí đầu tư vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và được xác định theo công thức sau:


 

 

P1

+

P2

+

P3

+

P4

 

 

P

=

 

 

 

 

 

 

 

x

T2

 

 

 

 

 

T1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong đó:

P: Chi phí đầu tư vào đất còn lại;

P1: Chi phí san lấp mặt bằng;

P2: Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

P3: Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

P4: Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất;

T1: Thời hạn sử dụng đất;

T2: Thời hạn sử dụng đất còn lại.

Đối với trường hợp thời điểm đầu tư vào đất sau thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì thời hạn sử dụng đất (T1) được tính từ thời điểm đầu tư vào đất.

Như vậy, trong trường hợp cá nhân, hộ gia đình không đủ điều kiện để được bồi thường về đất nhưng thỏa các điều kiện để được bồi thường về chi phí đầu tư về đất thì vẫn được bồi thường về chi phí đầu tư. Ngoài ra, các cá nhân, hộ gia đình cũng cần tìm hiểu thêm các nguyên tắc bồi thường khác khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình khi trở thành người có đất bị thu hồi. Lưu ý rằng, bồi thường chi phí đầu tư vào đất chỉ áp dụng trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

                                                                                                                 BÍCH TRÂM

---
Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:


Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG