RÚT VỐN LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ HOẶC CHỒNG TỰ Ý GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

11:13 PM
tài sản chung vợ chồng, góp vốn, rút vốn thành lập doanh nghiệp, ly hôn

VANTHONGLAW.COM - Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kì hôn nhân, việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải được cả hai vợ chồng đồng ý. Tuy nhiên, thực tế có rất nhiều giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhưng chỉ một bên vợ hoặc chồng định đoạt, điển hình là việc tự ý góp vốn đầu tư kinh doanh. Vậy việc thực hiện giao dịch này có phù hợp quy định pháp luật không, trong trường hợp vợ hoặc chồng yêu cầu rút vốn khỏi doanh nghiệp đã có tư cách pháp nhân thì giải quyết như thế nào!?

Bài liên quan

Cơ sở pháp lý điều chỉnh:

-   BLDS 2015;

-    Luật doanh nghiệp 2020;

-   Luật hôn nhân và gia đình 2014;

-   Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hôn nhân gia đình 2014;

-   Luật công chứng 2014.

1.     Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng:

Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

2.     Tài sản chung được đưa vào kinh doanh:

Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.”

Chiếu theo quy định của pháp luật, việc góp vốn đầu tư kinh doanh bằng tài sản chung phải được cả hai vợ chồng đồng ý. Việc thỏa thuận này phải lập thành văn bản thể hiện rõ việc đồng ý cho người kia mang toàn bộ, hoặc một phần tài sản chung vào đầu tư kinh doanh.

Tại Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh như sau: "Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.”

3.   Rút vốn đã góp bằng tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ hoặc chồng tự ý góp vốn:

-          Trong trường hợp không xảy ra tranh chấp:

Tùy vào hình thức góp vốn mà việc rút vốn được thực hiện theo quy định tại Điều 50, 77, 119, 185 Luật Doanh nghiệp 2020.

-          Trong trường hợp xảy ra tranh chấp:

Thực tế phát sinh trường hợp vợ/chồng tự ý góp vốn kinh doanh bằng tài sản chung. Sau khi phát hiện thì đòi hủy giao dịch góp vốn với công ty, đồng thời người đem tài sản góp vốn cũng muốn rút phần vốn đã góp. Vậy tình huống này phải xử lý như thế nào?

Căn cứ quy định tại Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP:

“2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.”

Ngoài ra, Điều 52 Luật Công chứng 2014 quy định về người được đề nghị tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, bao gồm: “Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật.”

Như vậy, nếu chỉ có chồng hoặc vợ góp vốn kinh doanh bằng những tài sản chung quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì hợp đồng góp vốn sẽ bị vô hiệu vì chưa đảm bảo về mặt chủ thể giao kết, tức là một trong hai bên chủ sở hữu tài sản không biết, không ký (hoặc ký chữ ký giả) và một bên có quyền khởi kiện ra toà án yêu cầu tuyên Hợp đồng góp vốn vô hiệu. Việc giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu áp dụng quy định tại Điều 131 BLDS 2015:

- Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

- Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.


Khách hàng có nhu cầu "Giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng do một bên tự góp vốn thành lập doanh nghiệp", vui lòng liên hệ:
Địa chỉ: 284 Lê Văn Qưới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
Quỳnh Như
Luật Vạn Thông

RÚT VỐN LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ HOẶC CHỒNG TỰ Ý GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP RÚT VỐN LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ HOẶC CHỒNG TỰ Ý GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
910 1

Bài viết RÚT VỐN LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ HOẶC CHỒNG TỰ Ý GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

Chia sẻ bài viết

Cùng Chuyên Mục

Previous
Next Post »