Sách luật

--- --- --- --- --- ---

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản?

8:00 AM

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản? 



VANTHONGLAW - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là loại giấy tờ quá xa lạ đối với chủ thể sử dụng đất. Tuy nhiên, chắc chắn không ít người vẫn chưa có cái nhìn rõ ràng về bản chất của loại giấy tờ này. “Liệu đây có phải là tài sản hay không?” có lẽ là một câu hỏi không ít người đã từng hỏi và vẫn chưa có câu trả lời thích đáng. Và bài viết dưới đây sẽ đưa ra những căn cứ pháp luật để trả lời cho câu hỏi này.

Về tài sản, khái niệm này được ghi nhận trong BLDS 2015 tại Điều 105 như sau:

“Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Theo đó, vật, tiền là những khái niệm tương đối dễ hiểu nhưng giấy tờ có giá và quyền tài sản lại là những thuật ngữ dễ gây khó hiểu cho người đọc không chuyên về luật. Giấy tờ có giá không được ghi nhận rõ ràng trong BLDS 2015 nhưng tại Công văn 141/TANDTC-KHXX có liệt kê một số loại giấy tờ có giá như sau:

“Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, thì giấy tờ có giá bao gồm:

a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;

b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;

c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009;

d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);

đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”…

Ngược lại với giấy tờ có giá, quyền tài sản có được ghi nhận khá rõ trong BLDS 2015 như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”  

Qua sự ghi nhận của pháp luật dân sự về tài sản như trên có thể thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể được xem là tài sản dưới dạng vật bởi giấy này không phải tiền, không được xem là giấy tờ có giá. Tuy nhiên, để có sự chắc chắn, cần phải xét qua khái niệm của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ghi nhận trong khoản 16 Điều 4 Luật Đất đai 2013

“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

            Từ khái niệm trên, có thể hiểu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng là một loại giấy tờ có tính pháp lý, ghi lại sự xác nhận của Nhà nước đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của chủ thể sử dụng đất. Bên cạnh đó, trong khái niệm của quyền tài sản cũng có nêu rõ quyền tài sản bảo gồm: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ,.... Vậy suy ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư ghi nhận lại quyền tài sản (có thể nói là tài sản) của chủ thể sử dụng, cụ thể tài sản ở đây là: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Vì vậy, Giấy chứng nhận không phải là tài sản mà chỉ là một hình thức thể hiện dưới dạng vật chất của quyền tài sản. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi quyền tài sản là một khái niệm mang tính trừu tượng trong khi tài sản là đối tượng không thể thiếu trong các giao dịch dân sự mà giao dịch dân sự đóng góp rất lớn trong sự phát triển cũng như ổn định nền kinh tế. Để các giao dịch không bị chững lại đòi hỏi Giấy chứng nhận ra đời để đại diện quyền tài sản tham gia các giao dịch, cụ thể ở đây là quyền sử dụng đất. Các giao dịch có thể thực hiện thực hiện với quyền sử dụng đất có thể kể đến là: chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho, thừa kế và thậm chí là góp vốn. Và bởi vì không phải là tài sản nên khi Giấy chứng nhận có bị hư hại hay bị mất thì không gây ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của chủ sở hữu (quyền sử dụng đất) mà họ có thể liên hệ với cơ quan chức năng xin được cấp lại, cấp đổi tùy theo từng trường hợp cụ thể. 

Thực tiễn cho thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy không phải là tài sản nhưng luôn góp mặt và là điều kiện không thể thiếu trong các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, thậm chí là đối tượng trong trong các vụ tranh chấp được Tòa thụ lý giải quyết ví dụ cụ thể như: Bản án 05/2021/DS-ST ngày 01/04/2021 về tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân Thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.  

Tóm lại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được xem là tài sản theo pháp luật của Việt Nam nhưng trên thực tế lại thay mặt tài sản (quyền sử dụng đất) trong hầu hết các giao dịch và tham gia cả vào các vụ việc được Tòa thụ lý giải quyết nên rất dễ gây nhầm lẫn rằng đây là tài sản và có thể thực hiện được giao dịch. Việc hiểu rõ Giấy chứng nhận không phải là tài sản nhằm giúp người dân có thể tự bảo vệ quyền lợi cho bản thân, ví dụ như nếu có rơi vào trường hợp bị đánh tráo, mất, hư hỏng, thông tin bị sai trên Giấy chứng nhận thì cũng không gây ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của họ (quyền sử dụng đất), và việc ta cần làm là đến cơ quan chức năng thực hiện các thủ tục theo luật định hoặc hướng dẫn để được cấp lại, cấp đổi, điều chỉnh thậm chí là kiện ra Tòa tùy vào trường hợp cụ thể. 

                                                                            Ánh Tuyết

---

Khách hàng có nhu cầu "Tư vấn pháp lý doanh nghiệp; làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm nhà đất, sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng; hợp thức hóa nhà đất; đăng ký thành lập doanh nghiệp...", vui lòng liên hệ:

Địa chỉ: 284 Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM
SĐT: (028) 3620 7824 - (028) 3636 0124 - 091 809 1001
Email: info@vanthonglaw.com - vanthonglaw@gmail.com
Tra cứu pháp luật miễn phí: http://www.luatvanthong.com
BẢO VỆ TỐT NHẤT QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA THÂN CHỦ
LUẬT VẠN THÔNG
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản?
910 1

Bài viết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản?

Chia sẻ bài viết

Cùng Chuyên Mục

Previous
Next Post »